Tổng quan về nám da và điều trị nám

Nám da là bệnh lý tăng sắc tố mắc phải và được đánh giá là một biểu hiện lão hoá da do ánh sáng. Cho đến nay việc kiểm soát và điều trị nám luôn gặp nhiều khó khăn, thách thức và cần kết hợp đa phương pháp các hoạt chất cũng như các liệu pháp công nghệ cao. Hãy cùng xem hết bài viết bên dưới để hiểu rõ về nám da và các phương thức điều trị nám nhé!

TỔNG QUAN VỀ NÁM DA

Giới thiệu về nám da

Nám da (Melasma) là một rối loạn da phổ biến. Đây là một dạng tăng sắc tố gây ra các mảng màu rám nắng, nâu, nâu xám hoặc xám xanh và các đốm giống tàn nhang, có màu sẫm hơn màu da tự nhiên. Các triệu chứng nám da xuất hiện đối xứng tại các khu vực tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời trên vùng da mặt, thường được hợp nhất thành một mô hình lưới. Nguyên nhân gây bệnh có nhiều và thường xen kẽ, chủ yếu là do ánh sáng mặt trời và thay đổi hormone.

Nám da

Nguyên nhân gây nám da

Ở những bệnh nhân có làn da nhạy cảm do di truyền hoặc nội tiết tố, có thể bị viêm do kích ứng mãn tính gây nên bởi tia UV hoặc mỹ phẩm, khiến phá vỡ hàng rào biểu bì, dẫn đến màng đáy bị tổn thương và viêm ở lớp bì. Để bảo vệ vùng da bị tổn thương, các sắc tố được hình thành và gây nên tình trạng nám da.

  • Tia UV là nguyên nhân gây nám da hàng đầu đã được chứng minh trong lâm sàng và phòng thí nghiệm, chúng phá hủy cấu trúc và để lại những vết “sẹo mặt trời” ở phần biểu bì, từ đó tăng sắc tố thành vết thâm, nám,…
  • Yếu tố gia đình: các gen liên quan đến quá trình viêm nhiễm, tăng sinh sắc tố và thay đổi nồng độ hormon, các đáp ứng vận mạch có thể liên quan đến bệnh lý nám má. Các bệnh nhân có làn da trong bảng Fitzpatrick độ I và II dường như ít có yếu tố gia đình hơn các bệnh nhân có da thuộc độ Fitzpatrick IV, V và VI [1, 2]
  • Thay đổi nội tiết tố: tăng sản xuất hormone (nội tiết tố) thúc đẩy quá trình sản xuất sắc tố melanin (thường gặp nhiều ở phụ nữ mang thai). Tỷ lệ rám má ra tăng đáng kể trên các bệnh nhân xung quanh độ tuổi tiền mãn kinh, điều này cho thấy sự trồi sụt bất thường của nồng độ hormon sinh dục có ảnh hưởng đến sự ra tăng sắc tố da
  • Một số loại thuốc: thuốc chống động kinh; thuốc tránh thai đường uống; các loại thuốc làm cho da nhạy cảm hơn với ánh sáng mặt trời.
  • Thói quen chăm sóc da: Chăm sóc da sai cách đặc biệt không bôi kem chống nắng và sử dụng các hoạt chất chống oxy hóa, điều trị tăng sắc tố trong thời gian dài sẽ làm cho da xuất hiện các đốm nâu, thâm sạm do tiếp xúc với ánh mặt trời.

Nguyên tắc điều trị nám da

Điều trị nám da cần đa kết hợp bao gồm các loại thuốc uống, thuốc bôi ngoài da, các quy trình điều trị xâm lấn. Các quy trình điều trị thường tập trung vào các cơ chế bệnh sinh của rám má như ức chế sản sinh sắc tố, giảm tổn thương do ánh sáng (UV, tia khả kiến), chống viêm, hình thành mạch,…Cụ thể:

  • Chống nắng: Bảo vệ da khỏi tiếp xúc với UV và các tia khả kiến khác có vai trò trung tâm trong điều trị, đặc biệt trong việc bùng phát các vết nám mới và làm tệ thêm tình trạng da sẵn có.
  • Điều trị ngoài da: Các hoạt chất điều trị thường có cơ chế ức chế hoạt động các tế bào hắc tố. Điều trị đơn dòng bôi thoa có tác dụng hiệu quả cao hơn khi kết hợp cùng lúc nhiều hoạt chất có khả năng ức chế nhiều chốt chặn trong quá trình hình thành nám da.
  • Các loại thuốc uống: Bên cạnh các loại thuốc bôi, các loại thuốc uống được sử dụng như một biện pháp kết hợp hiệu quả trong điều trị nám da. Điển hình là Tranexamic acid (TA), Pycnogenol, Chiết xuất dương xỉ,…

Các phương pháp điều trị bằng công nghệ Laser: Để rút ngắn thời gian hoặc tăng cường hiệu quả điều trị nám da, hoặc da không thể đáp ứng tốt liệu trình bôi thoa, thì Laser và các liệu pháp ánh sáng là liệu pháp tiếp cận hàng ba tiên tiến nhất giúp tăng tốc, phối hợp và tăng cường hiệu quả các liệu pháp trước đó.

NHỮNG HOẠT CHẤT ĐIỀU TRỊ NÁM ĐIỂN HÌNH

Thuốc bôi điều trị nám da kê đơn

1.Hydroquinone

Hydroquinone (HQ) ở nồng độ 2% và 4% là thuốc được sử dụng rộng rãi và nghiên cứu nhiều nhất trong điều trị nám da. Hydroquinone hoạt động thông qua cơ chế chủ yếu là ức chế enzym tyrosinase – enzyme chuyển DOPA thành melanin . Hydroquinone còn có khả năng phá huỷ tế bào hắc tố và các bao hắc tố, giảm các đốm hắc tố [3].

Các triệu chứng của sắc tố thường được cải thiện sau từ 4 đến 6 tuần khi điều trị bằng hydroquinone. Trong nám da, mức giảm trung bình của MASI sửa đổi (mMASI) khi điều trị bằng kem chống nắng phổ rộng và HQ 4% tại chỗ dự kiến là 30–40% sau 8 tuần và 45–55% sau 16 tuần [4].

Mặc dù rất hiệu quả trong điều trị nám da nhưng hydroquinone có thể dẫn đến các tác dụng phụ như viêm da kích thích và dùng kéo dài có thể dẫn đến bệnh đất son ngoại sinh, một bệnh lý rối loạn hắc tố da, biểu hiện bằng các đốm đen hoặc xanh do tác dụng của hydroquinone (5).

Ochronosis ngoại sinh

2.Corticosteroids

Corticosteroids có cơ chế chống viêm mạnh mẽ và ức chế tăng sinh của melanocyte từ đó ngăn cản hình thành hắc tố mới, đặc biệt là tăng sắc tố sau viêm [6]. Tuy nhiên, hoạt chất này không được khuyến khích dùng kéo dài trong bất kỳ vấn đề nào kể cả điều trị nám da vì có nguy cơ hình thành các bệnh giãn tĩnh mạch kiểu hình nhện, mỏng da, các vằn sọc da và mất sắc tố da.

3.Retinoids

Retinoids với cơ chế chính là tăng cường tốc độ đổi mới của tế bào sừng hoá của da, từ đó cải thiện các rối loạn ở biểu bì và bì, sửa chữa các tế bào sừng bị hư hỏng, tăng quá trình phân bào tế bào đáy từ đó loại bỏ các tế bào bị nhiễm hắc tố một cách hiệu quả.

  • Các nghiên cứu cho thấy retinoids 0.1% có vai trò rất đáng kể trong điều trị nám da [7,8].
  • Tương tự khi tretinoin 0,1% và 0,025% được sử dụng ở những bệnh nhân lão hóa, khiến tăng độ dày lớp biểu bì, tăng độ dày lớp hạt, săn chắc lớp sừng, tăng mạch máu và giảm hàm lượng melanin gây tăng sắc tố từ đó cũng cải thiện nám da hiệu quả.
Retinol nồng độ 1% sau 12 tuần giúp làm giảm rãnh nhăn, tăng sắc tố và đều màu da

4.Kết hợp thuốc bôi Kligman trong điều trị nám da

Liệu pháp kết hợp ba thành phần gồm dexamethasone 0,1% – 0,1% tretinoin – 5% hydroquinone được thực hiện bởi Tiến sĩ Albert M. Kligman vào năm 1975, đến nay vẫn được xem là công thức tối ưu và được sử dụng rộng rãi trong phác đồ điều trị nám da bởi những tác động toàn diện.

Cơ chế hoạt động chính được cho là nhờ hydroquinone có tác dụng ức chế tyrosinase (loại enzym quan trọng nhất trong quá trình tổng hợp melanin) cho thấy hiệu quả làm trắng giảm nám da mạnh mẽ. Thêm vào đó, Tretinoin ngăn chặn quá trình oxy hóa hydroquinone, tăng cường sự thâm nhập vào biểu bì, loại bỏ sắc tố và tăng sinh tế bào sừng. Cuối cùng, steroid tại chỗ có tác dụng làm giảm chuyển hóa tế bào, ức chế tổng hợp melanin và giảm kích ứng do thuốc.

Bệnh nhân trước và 1 tháng sau khi điều trị bằng kem (sửa đổi “công thức Kligman” và 5% axit ascorbic).

Điều trị nám da bằng kết hợp 3 thuốc bao gồm HQ, retinoid acid và steroid đã được chấp nhận bởi FDA. Tuy nhiên 50% các bệnh nhân dùng công thức bộ 3 này có các dấu hiệu tăng kích thích da và đỏ da so với 14% nhóm chứng [9].

Thuốc bôi điều trị nám da không kê đơn

1.Cysteamine

Là hợp chất sinh học tự nhiên, Cysteamine có hoạt tính chống oxy hóa và ức chế sắc tố mạnh mẽ giúp trung hòa gốc tự do, làm chậm quá trình lão hóa, giảm nám, từ đó điều trị nám song hành với tái cấu trúc da.
Cysteamine phù hợp cho những người có tình trạng nám da và các rối loạn sắc tố khác bao gồm tăng sắc tố, tàn nhang, tăng sắc tố sau viêm (PIH) mà vẫn muốn đảm bảo an toàn, không gây độc tế bào như Hydroquinone. Cysteamine làm giảm sản xuất melanin một cách rõ rệt nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn gần như tuyệt đối vì không tẩy trắng mà chỉ loại bỏ lượng melanin dư thừa gây tăng sắc tố [10].
Có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng Cysteamine an toàn, dung nạp tốt và hiệu quả, gần tương đương Hydroquinone nhưng Cysteamine an toàn hơn và có thể sử dụng thời gian dài liên tục trong điều trị các vấn đề về sắc tố.

2.Tranexamic Acid

Tranexamic acid, một chất tổng hợp thường dùng trong cầm máu y khoa, thường hay được dùng ở cả dạng uống, ngoài da và tiêm trong điều trị nám da. Các nghiên cứu thấy rằng tranexamic thường kém hiệu quả khi dùng một mình để điều trị nám nhưng tác dụng rất tốt khi dùng kết hợp với các thuốc và liệu trình khác [11,12].
Tranexamic Acid cực kì phù hợp với những làn da nám có nền giãn mao mạch, lộ rõ mạch máu, viêm đỏ,… giúp giảm viêm nhanh chóng. Song song đó, khả năng giảm viêm của Tranexamic Acid sẽ hạn chế tình trạng tăng sắc tố dội ngược sau các điều trị xâm lấn, rất phù hợp với các tình trạng nám da khác nhau.

3.Kojic Acid

Kojic Acid có nguồn gốc từ một số loài nấm như Penicillium và Aspergillus, với khả năng ức chế trực tiếp enzym tyrosinase liên quan đến quá trình hình thành hắc tố. Acid Kojic cải thiện nám da nhanh chóng mặc dù có một số rủi ro và thường được sử dụng với nồng độ từ 1% đến 4% và hiệu quả hơn khi được sử dụng kết hợp với các chất khác (ví dụ: vitamin C, arbutin, AHAs, chiết xuất cam thảo).
So về hiệu quả thử nghiệm với Hydroquinone, chế phẩm dựa trên hydroquinone 4% hiệu quả gấp 5 lần so với chế phẩm kết hợp axit kojic (0,75%) và vitamin C (2,5%) trong điều trị nám.

4.Arbutin

Arbutin, một glycoside là dẫn xuất của Hydroquinone, tuy nhiên hoạt chất này an toàn hơn nhiều so với Hydroquinone, có tác dụng làm sáng da thông qua việc ức chế trực tiếp enzyme tyrosinase. Arbutin được cho là tác dụng chậm và nhẹ hơn hầu hết các hoạt chất làm trắng khác, nên sử dụng Arbutin kết hợp với các chất làm sáng da khác để đạt được hiệu quả điều chỉnh tối ưu tình trạng nám da, tăng sắc tố khác nhau trên da.

Chất chống oxy hóa trong điều trị nám da

Da nhạy cảm và lão hoá là một trong những yếu tố bệnh sinh hàng đầu gây nám. Khi làn da bị tấn công bởi các gốc tự do, một chuỗi phản ứng kích thích sản sinh các hắc tố melanin nhiều hơn để bảo vệ tế bào. Vậy nên, chống oxy hóa giúp gián tiếp điều trị nám da thông qua cơ chế chấm dứt chuỗi phản ứng này. Đồng thời, tình trạng viêm gây sụt giảm collagen và chất chống oxy hóa cũng ức chế viêm, chống lại tổn thương quang học.
Hơn hết, chống oxy hóa giúp đẩy lùi lão hóa, điều trị nám da trên nền da khỏe luôn đáp ứng cao hơn trên nền da nhạy cảm.

1.Niacinamide

Vitamin B3, một chất chống oxy hóa mạnh, làm giảm sự mất nước qua lớp biểu bì, do đó cải thiện chức năng hàng rào lipid của lớp biểu bì. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng niacinamide có tác dụng làm sáng da đáng kể thông qua việc ức chế chuyển melanosome từ tế bào hắc tố sang tế bào sừng [13], nói cách khác, Niacinamide ức chế không cho melanin di chuyển và xuất hiện trên bề mặt da, chấm dứt con đường nám da biểu hiện lên bề mặt.

2% niacinamide thoa lên da trong 4 tuần làm giảm đáng kể sự tăng sắc tố trên da và giúp da sáng hơn

2.Vitamin C

Vitamin C củng cố lớp chống nắng và tăng hiệu quả bảo vệ tế bào trước các tác nhân kích thích, ngăn chặn chuỗi oxy hóa biến đổi tyrosinase thành melanin, hỗ trợ chống nắng giảm đỏ và làm chậm quá trình lão hóa của làn da.

Dạng sinh khả dụng phổ biến nhất của Vitamin C là L-Ascorbic Acid. Khi thoa tại chỗ, L-Ascorbic Acid đóng vai trò như một chất chống oxy hóa đa chức năng, trung hoà ROS được tạo ra trong môi trường nước của da.

Bên cạnh đó, một dẫn xuất mới của Vitamin C là Tetrahexyldecyl Ascorbate (THD Ascorbate) là một dẫn xuất cải tiến và nổi trội nhất của Vitamin C nhờ khả năng tan trong dầu và ổn định hơn, thẩm thấu vào da tốt hơn xuyên qua lớp biểu bì đến lớp trung bì. THD Ascorbate đang được ứng dụng trong một số sản phẩm cao cấp trên thị trường hiện nay.

3.Pycnogenol đường uống

Pycnogenol là chiết xuất từ vỏ cây thông đỏ của Pháp, đã được sử dụng từ năm 1479 để điều trị vết thương. Chiết xuất tinh khiết và chuẩn hoá của Pycnogenol bao gồm các hợp chất phenolic, monome (catechin, epicatechin và taxifolin), flavonoid cô đặc (procyanidin/proanthocyanidin).

Với hàm lượng cao các chất chống oxy hóa, Pycnogenol có khả năng bảo vệ tế bào, giảm ban đỏ do ánh sáng mặt trời gây ra. Song song đó, Pycnogenol ức chế viêm bằng cách ngăn chặn chất trung gian gây viêm, giảm những vấn đề tăng sắc tố sau viêm trên da.

Các nghiên cứu [14] cho thấy Pycnogenol làm giảm đáng kể việc sản xuất melanin, ED1 và PPAR α, δ và γ, cũng như giảm khoảng 66,5% hoạt động của tyrosinase.

Có một ưu điểm vượt trội của Pycnogenol so với các hoạt chất làm đẹp da có chức năng tương tự là không phải tạm nghỉ hoặc giãn liều. Với collagen hoặc glutathione, khi sử dụng bạn cần có thời gian nghỉ giữa các đợt để cơ thể đạt được độ hấp thu tốt và khiến cơ thể không bị phụ thuộc rồi ngừng sản xuất tự thân. Riêng Pycnogenol bạn có thể sử dụng liên tục không cần ngừng nghỉ mà không phải lo lắng bất kì ảnh hưởng tiêu cực nào đến sức khỏe.

CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ NÁM DA HIỆU QUẢ

Chống nắng là tiên quyết trong điều trị nám da

Tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây nám. Do đó, các biện pháp chống nắng nghiêm ngặt nên được khuyến cáo đối với bất kỳ bệnh nhân nào được điều trị và duy trì sau điều trị.

Ức chế hoạt động của tế bào hắc tố trong điều trị nám da

Bước 1 – Laser

Không phải làn da nám nào cũng cần thiết laser để ức chế hoạt động của các tế bào hắc tố. Còn tùy thuộc vào tình trạng nám và nền da nám. Đối với những tình trạng nám nông ở biểu bì thì hoàn toàn có thể điều trị hàng đơn với thuốc bôi hoặc thuốc uống.

Tuy nhiên, với những trường hợp nám chân sâu (nám bì) hoặc nám kháng trị lâu năm thì cần phá hủy các tế bào hắc tố bằng laser, tương tự với nền da nám bị dày sừng khó có thể tiếp cận vùng tăng sắc tố những phương pháp thông thường.

Để có thể ức chế hoạt động của các tế bào hắc tố tại lớp biểu bì và lớp bì một cách nhanh chóng và giảm tổn thương đến các vùng da xung quanh, cần biện pháp can thiệp công nghệ cao bằng laser.
Có thể nói, laser gây ra sự bất hoạt melanocyte và khiến các melanosome trong tế bào hắc tố biến mất, thể tích tế bào hắc tố trở nên nhỏ hơn và quá trình phân hạch hạt nhân giảm đi.

Cơ chế tác động của laser

Tuy nhiên, laser không thể điều trị khỏi căn nguyên của nám mà chỉ có phá hủy và ức chế nám tại lớp thượng bì nên việc nám tái phát sau laser là hoàn toàn có thể xảy ra nếu không được chăm sóc kỹ. Hơn nữa, tăng sinh mạch máu là một hiện tượng phụ khi làn da bị tổn thương bởi bức xạ, vậy nên cần chuyên viên y tế có chuyên môn và kinh nghiệm vững tư vấn và thăm khám trước và sau điều trị laser.

Bước sóng laser khác nhau tác động độ sâu khác nhau trong điều trị nám

Bước 2 – Mesotherapy

Sau laser sắc tố trên da đã bắt đầu được phân giải, tiếp theo cần kết hợp Mesotherapy để tấn công cục bộ vùng tăng sắc tố, giảm viêm, ngăn hình thành sắc tố mới và ngăn ngừa tăng sắc tố dội ngược sau laser.
Với liệu pháp mesotherapy, thuốc được đưa trực tiếp vào lớp bì, nồng độ thuốc cao hơn ở vùng mục tiêu với thể tích nhỏ hơn. Do đó, hiệu quả lớn hơn và lâu dài hơn, với ít tác dụng phụ hơn.

Tranexamic Acid là chất được nghiên cứu nhiều nhất trong liệu pháp điều trị nám chân sâu trong da. Trong các thử nghiệm lâm sàng với liệu pháp Mesotherapy với Tranexamic Acid, MASI giảm dao động trong khoảng từ 33,3% đến 81,2% trong khoảng 3–12 buổi được thực hiện và khoảng thời gian giữa các buổi là 1– 6 tuần [16].

Hiệu quả mesotherapy tranexamic acid và axit ascorbic so với tranexamic acid và giả dược trong điều trị nám

Bước 3 – Bôi thoa các hoạt chất ức chế sắc tố

Khi đã phá hủy được melanin bằng Laser kết hợp Mesotherapy cục bộ, cần kết hợp các hoạt chất bôi thoa để ức chế sắc tố, ngừa tăng sắc tố tái phát. Một số hoạt chất làm trắng tại chỗ giúp ngăn chặn sản xuất melanin an toàn và tiết kiệm, có thể sử dụng thời gian dài mà không gây tác dụng phụ điển hình như Cysteamine, Tranexamic Acid, Ascorbic Acid (vitamin C) và niacinamide.

Một sự kết hợp khoa học và được các chuyên gia khuyến khích là Cysteamine và Tranexamic Acid. Trong khi Cysteamine chống oxy hóa và trực tiếp làm giảm sắc tố do ức chế enzyme peroxidase và tyrosinase, Tranexamic Acid giúp ức chế plasmin (plasminogen thúc đẩy sự tổng hợp melanin bởi tia UV) đồng thời giảm tối đa khả năng viêm cũng như tăng sắc tố sau viêm.

Một phụ nữ Fitzpatrick Skin Type 4 bị nám (A) trước khi điều trị, (B) sau 90 ngày điều trị bằng Cysteamine bôi tại chỗ và kem kết hợp axit tranexamic.

Loại bỏ sắc tố biểu bì trong điều trị nám da

1.Peel da bằng hóa chất loại bỏ sắc tố trong điều trị nám

Sau khi kiểm soát thành công hoạt động quá mức của các tế bào hắc tố, lượng melanin dư thừa trước đó vẫn đã được sản xuất và sẽ di chuyển dần lên lớp biểu bì trên cùng, cần thực hiện những đợt peel da liên tiếp để loại bỏ hoàn toàn hắc tố. Các tác động cần thiết bao gồm: tái tạo biểu bì, loại bỏ melanin và tái tổ chức lớp bì do quá trình viêm và sản xuất các cytokine, kích thích nguyên bào sợi và tăng tổng hợp collagen và elastin [16].

Peel da bằng acid ở nồng độ cao làm tăng tốc độ luân chuyển của tế bào sừng biểu bì, được phân loại ở bề mặt, trung bình và sâu tùy theo lớp da. Khi tế bào biểu bì được tái tổ chức, chúng giúp tăng sản sinh collagen, elastin và mucopolysacarit, kích thích nguyên bào sợi và tăng tổng hợp collagen và elastin, cùng lúc đó, tế bào sừng bị loại bỏ và melanin cũng bị loại bỏ theo nhanh chóng.

Peel LevelHoạt chất
Bề mặt, nôngGlycolic acid (GA) 30%, 50% hoặc 70%; Salicylic acid (SA) 20% hoặc 30%; Dung dịch Jessner (JS), gồm 14 g resorcinol, 14 g salicylic acid và 14 mL lactic acid (85%) trong cồn etylic 95%;  

Retinoic acid (RA) hoặc tretinoin, ở nồng độ 1%, 3% và 5% trong ethanol/propylene glycol

Trung bìnhPyruvic acid
SâuTrichloroacetic acid (TCA) 15% hoặc 20%

Bảng 1: Các hoạt chất Peel khác nhau

2.Laser lớp biểu bì trong điều trị nám da

Nám biểu bì hoàn toàn có thể được loại bỏ bằng laser bước sóng ngắn. Laser tại biểu bì giúp giảm tổn thương những tế bào lân cận so với biện pháp peel da hóa học, da nhanh phục hồi hơn và mảng nám chứa hắc tố cũng dễ dàng loại bỏ hơn. Laser gần 800 nm hiệu quả và an toàn. Loại laser thường được chọn lựa là laser Q-switch Nd: YAG 1064-nm bước sóng gần 800nm để làm laser toning hoặc laser alexandrite xung dài 755nm (được sử dụng vì hiệu ứng quang nhiệt an toàn hơn hiệu ứng quang cơ khi xem xét thời gian xung).

Laser phân đoạn bóc tách (CO2 và Er: YAG) thường được sử dụng trong điều trị nám biểu bì bằng cách loại bỏ một lớp mỏng trên da, thông qua cơ chế làm bốc hơi các keratinocyte có nhiều melanin hơn. Hơn nữa, các vùng da xung quanh lành thương giúp cải thiện lớp biểu bì nông, làm giảm kích thích các melanocyte.

Kết quả trước (A) và sau (B) điều trị bằng laser Q-switched Nd YAG (Medlite II, Conbio, Fremont, CA, USA).

ĐIỀU TRỊ DUY TRÌ NÁM DA VÀ DỰ PHÒNG TÁI PHÁT

Việc điều trị nám là một hành trình rất dài vì bản chất nám là một bệnh mãn tính và sẽ rất dễ tái phát nếu không duy trì việc ức chế sắc tố liên tục sau điều trị. Song song với chống nắng là nội dung trọng tâm thì việc bôi thoa các hoạt chất làm trắng giúp duy trì hiệu quả sau quá trình điều trị vấn đề sắc tố, đồng thời cũng dự phòng tái phát sau điều trị nám da.

Dùng Cysteamine kết hợp Tranexamic Acid

Cysteamine và Tranexamic Acid là hai hoạt chất trị nám thế hệ mới an toàn kể cả khi dùng trong thời gian dài và mang lại kết quả điều trị nám không thua kém bất kỳ thành phần nào. Trong khi Cysteamine là một phân tử ức chế sắc tố mạnh, dung nạp tốt trên cơ thể người, không gây đột biến và ung thư; Tranexamic Acid có khả năng giảm viêm, hạn chế tình trạng tăng sắc tố dội ngược sau các điều trị xâm lấn, rất phù hợp với các tình trạng da tăng sắc tố khác nhau.

2 hoạt chất cộng hưởng cùng lúc ức chế nhiều cơ chế bệnh sinh của nám, đặc biệt cả Cysteamine và Tranexamic Acid đều an toàn và không gây tác dụng phụ khi sử dụng trong thời gian dài. Hơn hết, Tranexamic Acid giúp giảm viêm đỏ, giãn mạch trên nền da nhạy cảm.

Một phụ nữ Fitzpatrick Skin Type 2 bị nám (A) trước khi điều trị, (B) sau 60 ngày điều trị bằng kem kết hợp Cysteamine và axit tranexamic trong nghiên cứu

Phục hồi và dưỡng da khỏe

Có định nghĩa nám da như sau [17]. “Nám da là đặc trưng được tạo nên bởi tình trạng viêm không triệu chứng, tức là viêm nhẹ, không nhìn thấy được, không triệu chứng lâm sàng. Nói cách khác, nám là da nhạy cảm”. Thực tế, những bệnh nhân bị nám có làn da nhạy cảm hơn những bệnh nhân khác và trong số những bệnh nhân bị nám, những bệnh nhân có làn da nhạy cảm không đáp ứng tốt với điều trị nám. Phục hồi vùng da tổn thương quyết định nền tảng làn da đáp ứng phác đồ điều trị nám nhiều hay ít và tránh tổn thương thêm bởi các gốc tự do.

Da cần được cung cấp những hoạt chất phục hồi hàng đầu như Yếu tố tăng trưởng (Growth Factor). Yếu tố tăng trưởng là tín hiệu hóa học giữa các tế bào để bật hoặc tắt các hoạt động cụ thể như tăng sinh tế bào, hóa ứng động và hình thành chất nền ngoại bào. Việc thoa các yếu tố tăng trưởng cũng làm giảm các dấu hiệu của lão hóa, chúng thúc đẩy tăng sinh nguyên bào sợi và tế bào sừng, giúp hình thành chất nền ngoại bào.

Đặc biệt, xen kẽ các hoạt chất phục hồi cấp nước cho da như Hyaluronic Acid, Peptide giúp hỗ trợ sản xuất Collagen và Elastin, củng cố hàng rào bảo vệ da nhanh chóng mà không gây bong tróc so với nhóm hoạt chất của Retinoid.
Bổ sung những hợp chất chống oxy hóa mạnh mẽ như Vitamin (E, C) giúp trung hòa gốc tự do, bảo vệ da khỏi các tác nhân gây hại từ môi trường, từ đó củng cố hàng rào ẩm và sức khỏe làn da.

GỢI Ý SẢN PHẨM

Kem hiệu chỉnh sắc tố NanoMD CYNTRA

NanoMD là thương hiệu thuộc Công Ty Nghiên Cứu Y Khoa Boston Santé, có trụ sở tại Mỹ. Tự hào khi hợp tác với các nhà khoa học trên thế giới trong lĩnh vực: hóa học, y học, kỹ thuật sinh học…

Kem hiệu chỉnh sắc tố da NanoMD CYNTRA với sự kết hợp hoàn hảo của Cysteamine 7.5% và Tranexamic Acid 3%. Cysteamine giúp ức chế hình thành sắc tố thông qua 5 cơ chế điển hình là Ức chế enzyme Tyrosinase & Peroxidase, Tăng Glutathione nội bào và Chống oxy hoá. Trong khi đó, Tranexamic Acid cộng hưởng ức chế hình thành sắc tố thông qua 7 cơ chế ức chế quá trình hình thành Plasmin và giảm các yếu tố thành mạch gây viêm.

Nồng độ Cysteamine và Tranexamic Acid cao cho hiệu quả tối ưu và an toàn khi sử dụng thời gian dài, đặc biệt, giúp điều trị nám và giãn mạch song hành. Hơn hết, công nghệ bọc nano giúp nâng cao hiệu quả và tính thẩm thấu của Cysteamine & Tranexamic Acid. Hạn chế tối đa nguy cơ kích ứng, từ đó dễ dàng trong kết hợp đa trị liệu như laser, peel, retinol, tretinoin, hydroquinone,…

NanoMD CYNTRA là kem điều trị nám bổ trợ cho mọi giai đoạn điều trị và duy trì kết quả điều trị nhờ khả năng tác động vào đa cơ chế hình thành sắc tố, trị nám và giãn mạch song song, giải quyết hiệu quả mọi vấn đề tăng sắc tố trên da.

Kem dưỡng làm dịu và phục hồi da Ekseption Ice Cream Repair

Ekseption là thương hiệu mỹ phẩm cao cấp đến từ Tây Ban Nha. Với hơn 20 năm kinh nghiệm ekseption sử dụng những thành phần lành tính dưới sự kết hợp giữa các acid hữu cơ (AHA, BHA, PHA), Hyaluronic Acid và Peptide tạo thành công thức điều trị chuyên nghiệp và an toàn.

Kem dưỡng làm dịu & phục hồi da Ice Cream Repair chứa những thành phần đóng vai trò cốt yếu trong việc thúc đẩy quá trình tăng sinh làn da khỏe mạnh và biệt hóa tế bào, đặc biệt là sau khi thực hiện liệu pháp peel da và sau xâm lấn.

Kem dưỡng làm dịu và phục hồi da Ekseption Ice Cream Repair

Với thành phần chứa tổ hợp công thức hoàn hảo giữa 5% Bio-placenta (5 Yếu tố tăng trưởng + Folic acid + Acetyl Glutamine), 5% Phức hợp sửa chữa với ATP và acid amin cùng vitamin E. Kem dưỡng Ekseption hỗ trợ làm dịu, giảm đỏ cho da sau điều trị xâm lấn, đẩy nhanh quá trình lành thương, phục hồi da hiệu quả, đồng thời còn giúp tái tạo bề mặt da, cải thiện độ đàn hồi, hỗ trợ tăng sinh collagen và làm chậm quá trình lão hóa.

Kem Chống Nắng Căng Bóng & Trẻ Hóa Ekseption All Day Shield

All Day Shield là kem chống nắng bảo vệ ban ngày thế hệ mới SPF50 với axit ferulic, bộ lọc tia UVA / UVB và Helioguard 365, một axit amin giống mycosporine (một hợp chất chống tia UVA tự nhiên chiết xuất từ tảo biển để bảo vệ da chống lão hóa).

Màng lọc toàn diện và hoạt chất phục hồi tối ưu: Phổ chống nắng tiên tiến với màng lọc chống nắng và bổ trợ 18% gồm Octinoxate, Tinosorb S, Tinosorb M, Uvinul T150,… Đây đều là những thành phần chống nắng đặc biệt ổn định, có khả năng hấp thụ cả UVA và UVB bước sóng dài, bảo vệ da toàn diện.

Đặc biệt, Ekseption All Day Shield còn chứa những hoạt chất phục hồi tối ưu, tăng sức đề kháng cho tế bào da hiệu quả như Ferulic acid 0.5% và Vitamin E. Trong khi Ferulic acid chống oxy hóa và sửa chữa tổn thương DNA, thúc đẩy quá trình phục hồi, tương tự, Vitamin E giúp dưỡng ẩm, phục hồi da toàn diện, giảm tác hại của các gốc tự do gây lão hoá sớm.

All Day Shield không nóng rát, khó chịu khi dùng trên nền da nhạy cảm, da treatment, da sau xâm lấn và điều trị. Lớp finish căng bóng, ẩm mịn nhờ chất nhũ hóa tự nhiên 100% dựa trên phospholipid, là các phân tử giống hệt da và thành phần thiết yếu của màng tế bào,giúp bổ sung độ ẩm, tái cấu trúc và làm dịu da.

Fusion F-Melaclear

Fusion Mesotherapy ra mắt từ năm 2017 tại Tây Ban Nha và đã mở rộng phát triển tại hơn 55 quốc gia trên thế giới.

Tập trung vào hoạt chất điều trị nám thế hệ mới là Tranexamic Acid, Fusion F-Melaclear ứng dụng liệu pháp chuyên sâu (Mesotherapy) giúp điều trị nám toàn diện nhờ tấn công cục bộ vào gốc, đảm bảo các dưỡng chất thẩm thấu sâu và sinh khả dụng cao nhất.

Fusion F-Melaclear được điều chế với công thức vàng là sự kết hợp 5 thành phần điều trị thâm, nám, sắc tố vượt trội:

  • Tranexamic Acid: Ức chế Plasmin, từ đó gián tiếp ức chế hiện tượng viêm da có liên quan đến gia tăng sắc tố melanin gây sạm nám.
  • Glutathione: Chống oxy hóa mạnh mẽ từ bên trong, tham gia các chu trình nội tế bào, sửa chữa tổng hợp ADN, tham gia vào chu trình tế bào, và ức chế tyrosinase làm giảm sắc tố melanin hiệu quả.
  • Niacinamide: Hoạt chất đa nhiệm giúp ức chế melanosome giải phóng vào tế bào sừng, chống oxy hóa và tăng cường chức năng hàng rào bảo vệ da, điều tiết bã nhờn, giảm tác hại tia UV.
  • 4 Butyl – Resorcinol: Ức chế trực tiếp các hoạt động của Tyrosinase và protein liên quan đến tyrosinase, mang khả năng ức chế gốc nám từ trước khi hình thành.
  • Arbutin: Dẫn xuất tự nhiên của Hydroquinone, có nguồn gốc từ thực vật (lúa mì, lê, việt quất, nam việt quất, quả dâu gấu) có tác dụng ức chế trực tiếp men Tyrosinase, ngăn hình thành melanin mới.

Tác động trực tiếp và ức chế cùng lúc nhiều yếu tố bệnh sinh của nám da, Fusion F-Melaclear giúp điều trị chuyên sâu cho da đốm nâu và sắc tố, kích thích đổi mới tế bào, trung hòa gốc tự do và cải thiện làn da, duy trì sự trẻ trung.

Ekseption White-Up Peptide Peel

Công thức Peel thế hệ mới tổng hợp những hoạt chất điều trị nám da và chống lão hóa hàng đầu trong Ekseption White-up Peptide Peel. Sản phẩm với nồng độ 30% acid, pH = 2.25, lý tưởng để peel da hiệu quả cao. Phức hợp hoạt chất tổng hợp từ AHA, BHA, PHA cùng Peptide và Tranexamic Acid giúp da thanh tẩy các sắc tố sạm màu, đồng thời phục hồi và giữ nước tái tạo tế bào cùng lúc.

  • Phytic acid 4%: Tẩy tế bào chết, dưỡng ẩm và giảm nếp nhăn.
  • Mandelic acid 6%: giảm mụn viêm, làm mờ vết thâm mụn, nếp nhăn nhỏ.
  • Gluconolactone 15%: Có tác dụng giữ ẩm, chống oxy hóa, tái tạo bề mặt da nhẹ nhàng, hạn chế mụn.
  • Lactobionic acid 1%: Giúp tăng cường chức năng của hàng rào bảo vệ, làm sáng da, dưỡng ẩm, dành cho da nhạy cảm.
  • Tranexamic acid 2%: Ức chế hoạt động của Tyrosinase, giảm tổng hợp tế bào melanocyte, giảm sắc tố melanin cho da trắng sáng, mịn màng hơn.
  • Whitening peptide: Là một peptide có tác dụng làm trắng, kích thích tăng sinh collagen làm da đàn hồi và săn chắc, sáng khỏe, đều màu hơn.

Peel điều trị nám da giúp tái tạo lớp thượng bì nhanh chóng hơn bất kì hoạt chất tẩy tế bào chết nào. Kể cả khi laser điều trị nám cũng cần khoảng 4 tuần mới thấy kết quả trên lâm sàng nhưng peel da giúp da rạng rỡ và loại bỏ các mảng sắc tố đi ngay lập tức theo từng đợt điều trị, giúp làm sáng da xỉn màu, làm mềm da, đồng thời chống lão hoá da (do bức xạ UV quá mức) và phục hồi độ pH của da.

KẾT LUẬN

Nám da là một bệnh lý mạn tính ảnh hưởng tới cả vấn đề thẩm mỹ và tâm lý. Nguyên nhân gây bệnh hết sức phức tạp và tùy tình trạng da khác nhau cần một phác đồ điều trị nám da khác nhau, điều này làm tăng độ khó kể cả với những bác sĩ chuyên môn cao.

Trong điều trị nám da, chống nắng là yếu tố trọng tâm, cần kết hợp thêm chống viêm, tiêu diệt tế bào hắc tố bằng thuốc bôi, peel da, thuốc uống và các ứng dụng công nghệ cao như Laser, Mesotherapy,… để tác động tối đa và kiểm soát những yếu tố bệnh sinh của nám.

Phải kết luận rằng các phương pháp điều trị nám da bằng đều không hoàn toàn an toàn và hiệu quả tuyệt đối. Không có một phác đồ cố định trong điều trị nám, tùy vào tình trạng nám da, nền da và tuổi đời “nám” để các bác sĩ có thể đưa ra những liệu pháp phù hợp nhất. Chung quy lại, muốn điều trị nám thì phải đa tác động, cần sự kiên nhẫn và chấp hành của bệnh nhân.

Nguồn tham khảo:

  1. Hexsel D, Lacerda DA, Cavalcante AS, Machado Filho CA, Kalil CL, Ayres EL, et al.
  2. Epidemiology of melasma in Brazilian patients: a multicenter study. Int J Dermatol. 2014;53(4):440-4.
  3. .Ortonne JP, Arellano I, Berneburg M, Cestari T, Chan H, Grimes P, et al. A global survey of the role of ultraviolet radiation and hormonal influences in the development of melasma. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2009;23(11):1254-62.
  4. Gupta AK, Gover MD, Nouri K, Taylor S. The treatment of melasma: a review of clinical trials. J Am Acad Dermatol. 2006;55(6):1048-65.
  5. Lima PB, Dias JAF, Cassiano DP, Esposito ACC, Miot LDB, Bagatin E, et al. Efficacy and safety of topical isobutylamido thiazolyl resorcinol (Thiamidol) vs. 4% hydroquinone cream for facial melasma: an evaluator-blinded, randomized controlled trial. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2021.
  6. Mishra SN, Dhurat RS, Deshpande DJ, Nayak CS. Diagnostic utility of dermatoscopy in hydroquinone-induced exogenous ochronosis. Int J Dermatol. 2013;52(4):413-7.
  7. Deo KS, Dash KN, Sharma YK, Virmani NC, Oberai C. Kojic Acid vis-a-vis its Combinations with Hydroquinone and Betamethasone Valerate in Melasma: A Randomized, Single Blind, Comparative Study of Efficacy and Safety. Indian J Dermatol. 2013;58(4):281-5.
  8. Griffiths CE, Finkel LJ, Ditre CM, Hamilton TA, Ellis CN, Voorhees JJ. Topical tretinoin (retinoic acid) improves melasma. A vehicle-controlled, clinical trial. Br J Dermatol. 1993;129(4):415-21.
  9. Kimbrough-Green CK, Griffiths CE, Finkel LJ, Hamilton TA, Bulengo-Ransby SM, Ellis CN, et al. Topical retinoic acid (tretinoin) for melasma in black patients. A vehicle-controlled clinical trial. Arch Dermatol. 1994;130(6):727-33.
  10. Chan R, Park KC, Lee MH, Lee ES, Chang SE, Leow YH, et al. A randomized controlled trial of the efficacy and safety of a fixed triple combination (fluocinolone acetonide 0.01%, hydroquinone 4%, tretinoin 0.05%) compared with hydroquinone 4% cream in Asian patients with moderate to severe melasma. Br J Dermatol. 2008;159(3):697-703.
  11. https://www.byrdie.com/cysteamine-for-skin-7197667
  12. Wu S, Shi H, Wu H, Yan S, Guo J, Sun Y, et al. Treatment of melasma with oral administration of tranexamic acid. Aesthetic Plast Surg. 2012;36(4):964-70.
  13. Bagherani N, Smoller BR. Efficacy of topical tranexmic acid in the treatment of melasma. Dermatol Ther. 2016;29(6):389-90.
  14. FINHOLT, P., & HIGUCHI, T. (1962). Rate studies on the hydrolysis of niacinamide. Journal of pharmaceutical sciences, 51, 655–661.https://doi.org/10.1002/jps.2600510710
  15. Grether-Beck, S., Marini, A., Jaenicke, T., & Krutmann, J. (2016). French Maritime Pine Bark Extract (Pycnogenol®) Effects on Human Skin: Clinical and Molecular Evidence. Skin pharmacology and physiology, 29(1), 13–17.
  16. Khalili M, Amiri R, Iranmanesh B, Zartab H, Aflatoonian M. Safety and efficacy of mesotherapy in the treatment of melasma: a review article. J Cosmet Dermatol. 2022;21(1):118–29.
  17. Lee KC, Wambier CG, Soon SL, Sterling JB, Landau M, Rullan P, et al. Basic chemical peeling: superficial and medium-depth peels. J Am Acad Dermatol. 2019;81(2):313–24.
  18. Committee C, Sl C, Kim IH, Kang JS, Park SH, Chung KY et al (2016) Laser and light treatment in Asian skin. Koonja, Paju

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Bài viết liên quan